Vietnam’s hub for climate-smart agriculture and sustainable development

Vietnam’s hub for climate-smart agriculture and sustainable development

07 Nov, 2025 367

THẾ HỆ DOANH NÔNG MỚI - NHỮNG NGƯỜI GIEO HY VỌNG XANH

Trồng cây, nuôi cá, làm phân hữu cơ, phục hồi đất đai, mỗi công việc đều có thể làm nhanh, làm lớn, nếu ta chỉ tính lời lỗ. Nhưng đất sẽ không nghe lời người tính toán. Nó chỉ nghe lời của người biết thương. Tôi nhận ra rằng một doanh nhân nông nghiệp chân chính không thể chỉ là người mua và bán, mà phải là người nuôi dưỡng. Nuôi cây, nuôi đất, nuôi niềm tin vào một nền nông nghiệp xanh, tử tế, nhân bản. Tôi đã gặp nhiều bạn trẻ, những người không sinh ra trong ruộng đồng, nhưng lại chọn về với nông nghiệp bằng lý tưởng. Có bạn rời thành phố, về quê trồng rau hữu cơ. Có nhóm sinh viên lập dự án nuôi ong rừng, trồng rừng phòng hộ. Có cô gái mang nghề thiết kế sản phẩm đến với làng nghề dừa nước, biến phế phẩm thành quà tặng sinh thái. Họ là thế hệ doanh nông mới, những người không coi nông nghiệp là “lùi về”, mà là “tiến tới”, không xem cây lúa, con cá là sản phẩm, mà là thông điệp xanh gửi đến xã hội. Họ đến với nông nghiệp không chỉ để mưu sinh, mà để tìm ý nghĩa sống. Và chính điều đó làm tôi xúc động, vì tôi thấy lại mình của thuở khởi đầu: say mê, ngây ngô, tin rằng nếu làm điều đúng thì trời đất sẽ thương.Dù ở bất cứ cương vị nào,  ông Lê Minh Hoan luôn quan tâm, đồng hành cùng các bạn trẻ trong hệ sinh thái Khởi nghiệp xanhTôi đã từng mở các buổi cà phê doanh nông, mời nông dân, kỹ sư, sinh viên, chuyên gia đến trò chuyện. Không có bục giảng, không có bài giảng, chỉ có những câu chuyện thật. Tôi bảo họ: “Khởi nghiệp xanh không phải con đường ngắn. Làm nông nghiệp không có đường tắt. Nhưng nếu mình kiên trì, nếu mình không quên gốc rễ, đất sẽ trả lại cho mình điều xứng đáng”. Từ những buổi gặp gỡ ấy, tôi kết nối họ thành nhóm, “Liên minh khởi nghiệp xanh”. Mỗi người một lĩnh vực, nhưng cùng chung tinh thần: làm tử tế, sống xanh, phát triển bền vững, cùng nhau chia sẻ kiến thức, hỗ trợ kỹ thuật, tìm đầu ra, lập thương hiệu, rồi đi thi… Khi những dự án ấy đoạt giải, không chỉ là giải thưởng, mà là sự khẳng định rằng nông nghiệp Việt Nam vẫn còn những người dám tin, dám mơ và dám làm. Càng đi sâu vào nông nghiệp, tôi càng thấy văn hóa không nằm ngoài kinh doanh. Nó ở trong từng cách làm việc, từng mối quan hệ, từng hạt giống mình gieo. Văn hóa dạy chúng ta làm ăn có nghĩa, làm người có tâm, làm nghề có trách nhiệm. Doanh nhân nông nghiệp không chỉ tính lợi nhuận cho công ty, mà phải tính lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường, cho thế hệ mai sau. Bởi vì, nếu đất không còn tốt, sông không còn trong, người nông dân không còn hạnh phúc, thì dù doanh nghiệp có giàu đến đâu, cũng chẳng thể gọi là thành công. Giờ đây, mỗi khi nhìn những bạn trẻ mang sản phẩm dự thi, thuyết trình say sưa về mô hình kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ, du lịch sinh thái…, tôi lại thấy trong mắt họ ánh lên niềm tin vào một Việt Nam nông nghiệp xanh và tử tế. Và tôi hiểu, mình không còn đơn độc. Bởi vì trên hành trình gieo hạt, luôn có người trẻ nối tiếp. Nông nghiệp sẽ không bao giờ là câu chuyện của riêng người nông dân, mà là bản giao hưởng của những trái tim cùng hướng về đất, cùng gieo một niềm tin xanh cho tương lai. Hãy tự hào khi giới thiệu: “Tôi là doanh nông”Theo BSA media

Xem chi tiết..

22 Oct, 2025 387

HƯỚNG TỚI NỀN NÔNG NGHIỆP XANH: BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG CÔNG BỐ ĐỀ ÁN GIẢM PHÁT THẢI TRONG TRỒNG TRỌT 2025–2035

Sáng ngày (22/10), Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị công bố Đề án “Sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050”.Đề án, được phê duyệt tại Quyết định số 4024/QĐ-BNNMT ngày 29/9, đặt mục tiêu hướng tới nền nông nghiệp phát thải thấp, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hội nghị do Thứ trưởng Hoàng Trung chủ trì, có sự tham dự của lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ, đại diện địa phương cùng nhiều tổ chức quốc tế như FAO, World Bank, GIZ, UNDP, các doanh nghiệp và viện nghiên cứu. Sự kiện khẳng định quyết tâm của ngành nông nghiệp trong thực hiện cam kết giảm 30% phát thải khí nhà kính vào năm 2030, góp phần xây dựng nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn và có trách nhiệm với môi trường toàn cầu.Các đại biểu tham dự Hội nghị Công bố Đề án "Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035".Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung chủ trì hội nghị, với sự tham dự của lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ, đại diện các địa phương cùng các tổ chức quốc tế như FAO, World Bank, GIZ, UNDP, doanh nghiệp và viện nghiên cứu. Sự kiện thể hiện sự phối hợp đa bên trong thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp xanh, đồng thời cụ thể hóa cam kết của Việt Nam trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), hướng tới mục tiêu giảm 30% phát thải khí nhà kính vào năm 2030 và phát triển nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững.Thảo luận kế hoạch thực hiện Đề án trồng trọt giảm phát thảiHội nghị chuyển sang phần thảo luận về dự thảo Kế hoạch hành động triển khai Đề án Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2030. Thứ trưởng Hoàng Trung cho biết, dự thảo mang tính gợi ý, dựa trên cơ cấu giống cây trồng của địa phương. Ông mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp, chia sẻ để dự thảo kế hoạch đạt được mục tiêu hiệu quả.Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung cùng ông Huỳnh Tấn Đạt (Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật), ông Nguyễn Ngọc Thạch (Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường) điều hành phiên thảo luận tại Hội nghị.Xây dựng 59 mô hình trồng trọt giảm phát thải tại 34 tỉnh, thànhTrình bày dự thảo Kế hoạch hành động thực hiện Đề án “Sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến 2050”, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết kế hoạch đã xác định rõ nội dung, tiến độ và trách nhiệm của từng cơ quan, bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả và thống nhất.Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật là đơn vị chủ trì, điều phối và tổng hợp báo cáo; Báo Nông nghiệp và Môi trường phụ trách công tác truyền thông, nâng cao nhận thức về Đề án. Các đơn vị thuộc Bộ sẽ phối hợp thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Tại địa phương, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao làm đầu mối tổ chức thực hiện, huy động nguồn lực và vốn ngoài ngân sách nhằm bảo đảm triển khai hiệu quả.Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trình bày về Kế hoạch hành động thực hiện Đề án.Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết Kế hoạch hành động thực hiện Đề án gồm 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách; chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp vùng sinh thái; áp dụng kỹ thuật sản xuất giảm phát thải; xây dựng mô hình sản xuất quy mô vùng và chuỗi giá trị; thiết lập hệ thống đo lường – báo cáo – thẩm định (MRV); nâng cao năng lực, nhận thức; và kết nối thị trường cho sản phẩm phát thải thấp.Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, kế hoạch đề xuất triển khai 59 mô hình tại 34 tỉnh, thành phố, bao gồm các mô hình canh tác lúa phát thải thấp, lúa – cá/tôm, lúa – ngô/lạc, cũng như mô hình trồng ngô, sắn, rau màu, cây lâu năm (chè, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả...), cùng mô hình nông lâm kết hợp, nông nghiệp tuần hoàn, sản xuất than sinh học và chuyển đổi đất 2 lúa sang cây trồng cạn.Mỗi địa phương dự kiến xây dựng 1–3 mô hình phù hợp điều kiện thực tế, có tiềm năng giảm phát thải cao và biện pháp cụ thể cho từng loại hình sản xuất.100% diện tích cây trồng chủ lực canh tác theo hướng giảm phát thảiÔng Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết Đề án là cơ sở pháp lý quan trọng để ngành trồng trọt triển khai đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến 2050.Theo đó, đến năm 2050, 100% diện tích cây trồng chủ lực sẽ áp dụng quy trình canh tác giảm phát thải; hình thành cơ sở dữ liệu số hóa về phát thải, tích hợp với hệ thống giám sát quốc gia; đồng thời phổ cập nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho các ngành hàng nông sản chủ lực. Ngành đặt mục tiêu đến năm 2035 giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm 2020.Tại địa phương, mỗi tỉnh, thành triển khai 1–2 mô hình sản xuất giảm phát thải, trong đó có ít nhất 15 mô hình đủ điều kiện phát triển tín chỉ carbon. Bên cạnh đó, ngành sẽ đào tạo khoảng 3.000 cán bộ và nông dân, xây dựng 5 bộ tài liệu truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát thải thấp.Ông Huỳnh Tấn Đạt - Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật công bố những mục tiêu cụ thể của Đề án.Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt cho biết, ngành trồng trọt đặt mục tiêu đến năm 2035 giảm ít nhất 15% lượng phát thải khí nhà kính so với năm cơ sở 2020. Tại địa phương, mỗi tỉnh, thành sẽ triển khai 1–2 mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải, trong đó có ít nhất 15 mô hình đủ điều kiện phát triển tín chỉ carbon. Hệ thống dữ liệu phát thải sẽ được đồng bộ với Hệ thống đăng ký quốc gia. Ngành cũng sẽ đào tạo khoảng 3.000 cán bộ, nông dân và doanh nghiệp, xây dựng 5 bộ tài liệu truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, thúc đẩy sản xuất phát thải thấp.Về nội dung, Đề án tập trung vào 6 nhóm nhiệm vụ chính, gồm: chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp vùng sinh thái; áp dụng kỹ thuật phát thải thấp; xây dựng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị; thiết lập hệ thống MRV; nâng cao năng lực, nhận thức; và kết nối thị trường cho sản phẩm “Phát thải thấp”. Để đạt mục tiêu, 7 nhóm giải pháp sẽ được triển khai, bao gồm tăng cường quản lý nhà nước, đẩy mạnh nghiên cứu – chuyển giao khoa học kỹ thuật, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị và mở rộng hợp tác quốc tế.Lãnh đạo Cục nhấn mạnh, Đề án sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh ngành hàng trồng trọt, bảo đảm an ninh lương thực, hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu và thực hiện cam kết giảm phát thải trong Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam.Hoàn thiện kế hoạch giảm phát thải trong trồng trọtPhát biểu khai mạc, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh Đề án được ban hành đúng thời điểm, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ngành trồng trọt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Mục tiêu là tăng năng suất, giá trị sản xuất đi đôi với giảm phát thải, hướng tới nông nghiệp xanh, tuần hoàn.Đề án tập trung vào 6 nhóm nhiệm vụ chính, gồm tái cơ cấu cây trồng, áp dụng kỹ thuật giảm phát thải, hoàn thiện hệ thống MRV, xây dựng mô hình sản xuất bền vững và phát triển cơ chế tín chỉ carbon để thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia.Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung phát biểu khai mạc Hội nghị. Theo nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..

01 Oct, 2025 487

NÔNG NGHIỆP SINH THÁI VÀ NGHỊCH LÝ: CHÍNH SÁCH NHIỀU, KỸ THUẬT ÍT

Đó là phát hiện nổi bật của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp qua khảo sát 275 chương trình, dự án về nông nghiệp sinh thái và các giải pháp tự nhiên.Cuối tháng 8/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức hội thảo tham vấn kỹ thuật về “chuyển đổi nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp dựa vào các giải pháp tự nhiên” nhằm đóng góp cho quá trình chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm bền vững ở Việt Nam. Sự kiện diễn ra trực tiếp – trực tuyến, thu hút khoảng 100 đại biểu từ cơ quan quản lý, viện trường, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Bài viết do phóng viên Quỳnh Chi thực hiện, đăng ngày 27/08/2025.Phó Viện trưởng NIAPP Bùi Hải Nam chia sẻ về kết quả nghiên cứu rà soát các dự án nông nghiệp sinh thái, giải pháp dựa vào tự nhiên ở Việt Nam.Lần đầu rà soát diện rộng các sáng kiến nông nghiệp sinh tháiNIAPP thực hiện nghiên cứu theo hai tầng—rà soát có hệ thống và khảo sát cấu trúc—trên 275 dự án nông nghiệp sinh thái từ 2010 đến nay. Kết quả cho thấy sau cam kết Net Zero tại COP26 (2021), số dự án tăng nhanh nhưng phân bố không đồng đều: ĐBSCL và ĐBSH dày đặc nhất, còn Đông Nam Bộ ít nhất. Phát hiện then chốt là nghịch lý “chính sách dày – kỹ thuật mỏng” trong chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm dựa trên nông nghiệp sinh thái và các giải pháp dựa vào tự nhiên (NbS). Theo ông Bùi Hải Nam (Phó Viện trưởng NIAPP), các dự án phụ thuộc mạnh vào ODA song/đa phương trong khi ngân sách nhà nước và vốn tư nhân còn hạn chế; phần lớn can thiệp nghiêng về cơ chế, chính sách, thiếu hướng dẫn kỹ thuật cụ thể cho cấp địa phương, dẫn đến cách làm từ trên xuống trong khi nền tảng kỹ thuật tại nông trại chưa được đầu tư tương xứng. NIAPP khuyến nghị thể chế hóa đối tác công–tư–cộng đồng (PPP+C), coi cộng đồng là đối tác bình đẳng để thúc đẩy hệ thống khuyến nông chuyên sâu, tùy chỉnh theo nhu cầu nông dân và điều kiện sinh thái địa phương, đồng thời nâng năng lực khuyến nông cộng đồng.Sự cần thiết nhân rộng các giải pháp dựa vào tự nhiên, sinh tháiNông nghiệp giữ vai trò then chốt ở Việt Nam: bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội, tạo sinh kế cho hơn 60% dân số và đóng góp khoảng 12% GDP (2024). Tuy nhiên, ngành đang chịu sức ép từ quy mô nông hộ nhỏ chiếm đa số, suy giảm tài nguyên, biến đổi khí hậu, cùng biến động thị trường và dịch chuyển thị hiếu toàn cầu. Tại hội thảo, ông Vũ Thanh Liêm (Bộ NN-MT) nhấn mạnh nông nghiệp sinh thái là giải pháp trọng yếu: tối ưu quan hệ giữa sản xuất và bảo tồn đa dạng sinh học, tăng khả năng phục hồi hệ sinh thái, giảm phát thải, và cần công cụ vận hành cụ thể cùng lộ trình khả thi để triển khai. Đại diện UNDP, ông Vũ Thái Trường cho rằng các mô hình hiện còn phân tán, thiếu cơ chế và tài chính đủ mạnh để nhân rộng; nghiên cứu rà soát của NIAPP sẽ chỉ ra rào cản và động lực chuyển đổi, đóng góp trực tiếp cho Kế hoạch hành động quốc gia về chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm.Ông Vũ Thái Trường, Trưởng Ban Biến đổi khí hậu, Năng lượng và Môi trường, UNDP tại Việt Nam, phát biểu ở hội thảo.Cần đặt nông dân ở trung tâm của chuyển đổiICRAF, với kinh nghiệm chuyển giao kỹ thuật cho nông dân, giới thiệu các mô hình ở Ấn Độ, Philippines, Indonesia và Việt Nam. Ông Nguyễn Quang Tân (Điều phối viên quốc gia ICRAF) nêu khái niệm “hệ sinh thái chuỗi giá trị” và việc áp dụng tiếp cận cảnh quan nông nghiệp sinh thái, nông–lâm kết hợp. Trọng tâm can thiệp là giảm phân bón hóa học, thuốc BVTV và quản lý chu trình dinh dưỡng một cách bài bản để nâng sức chống chịu và tính bền vững của hệ thống.Từ thực tế trang trại Mục Đồng, nhà sáng lập kiêm CEO Nguyễn Thị Thịnh chia sẻ động lực lớn nhất là tạo niềm tin để nông dân dám theo đuổi nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn. Bắt đầu với 13 con bò mẹ, chị tự xây dựng nguyên tắc “5 không”, qua đó đưa Mục Đồng trở thành một trong những trang trại đầu tiên ở Việt Nam đạt chứng nhận hữu cơ của Nhật Bản (2021). Theo chị, nông nghiệp tuần hoàn vốn quen thuộc với nông thôn Việt Nam, nhưng việc lạm dụng hóa chất đã gây hệ lụy môi trường; đây là lúc hợp tác xã cần mạnh dạn chuyển đổi. Mô hình dùng phân bò nuôi trùn quế tại Mục Đồng vừa phục vụ nhu cầu nội bộ, vừa cung cấp vật tư cho các nhà sản xuất địa phương, hỗ trợ họ chuyển hướng hữu cơ – bền vững.Điều phối viên quốc gia của ICRAF tại Việt Nam Nguyễn Quang Tân chia sẻ kinh nghiệm thực hiện các dự án kỹ thuật ở châu Á. Cuộc điều tra cần thiết về các dự án nông thônPGS.TS Đào Thế Anh ghi nhận nỗ lực của NIAPP cùng sự hỗ trợ của UNDP, coi báo cáo về 275 chương trình/dự án nông nghiệp sinh thái là bức tranh tổng quan giúp nhận diện lỗ hổng hệ thống và đưa ra khuyến nghị phù hợp. Ông nhấn mạnh nông nghiệp sinh thái mang tính liên ngành, đã được lồng ghép trong Quyết định 300/QĐ-TTg, vì vậy các nghiên cứu tiếp theo cần tích hợp Kế hoạch hành động quốc gia như một cơ sở pháp lý để địa phương cụ thể hóa kế hoạch hành động. Ở góc độ kinh tế hộ, Nguyễn Thức Thi lưu ý quá trình chuyển đổi có thể khiến năng suất và giá trị ngắn hạn giảm, nên phải tính kỹ bài toán kinh tế để bảo đảm bền vững. Nguyễn Mạnh Hiệp (IUCN) chỉ ra khác biệt vùng miền: ĐBSCL thiên về “thuận thiên”, sinh kế và thích ứng khí hậu, trong khi các tỉnh phía Bắc chú trọng an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng. Từ các kết quả bước đầu, nhóm nghiên cứu khẳng định phối hợp đa ngành là chìa khóa thúc đẩy cơ chế tài chính xanh, góp phần tăng tốc chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm.Theo Quỳnh Chi-nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..